Mùa đông của hồn tôi

by Hoàng Nguyễn on Tháng Mười Một 28, 2008 · 0 comments

in Hà Nội

hanoi

… Vậy là mùa đông đã về. Với người này, mùa đông là quán nhỏ, có một bà cụ như chứng nhân của Hà Nội đang đổi thay, của cuộc đời những con người bình dị có vui sướng, có khổ đau. Với người kia, mùa đông là mùi khói rơm rạ thơm cay nồng, tỏa ra từ những gian bếp thấp tè, có những bữa cơm đoàn viên có bà, có mẹ, có cha. Để từ những làn khói mỏng manh ấy, mà con người ta có thể bước đi trong đời, vững chãi, bình yên…

Quán mùa đông

“Hà Nội mùa này vắng những cơn mưa. Cái rét đầu đông, khăn em hiu hiu gió lạnh…Phố vắng nghiêng nghiêng cành cây khô, quán cóc liêu xiêu một câu thơ…”

Từ ngày biết tôi thích bài hát ấy, lần nào trông thấy tôi ra là bà cụ bán hàng nước ở đầu ngõ của khu tập thể lại bảo cô cháu gái xinh xắn có mái tóc dài tết thành hai bím dễ thương cho cái băng ghi lại từ chương trình ca nhạc theo yêu cầu của đài Hà Nội vào chiếc caset kiểu cũ, và bật lên. Âm thanh hơi rè nhưng vẫn có thể nhận ra được giọng của cô ca sĩ răng khểnh gốc Hà thành đằm thắm, mượt mà với giai điệu chầm chậm, diết da của tình yêu và nỗi nhớ…


Bà cụ bán hàng nước xấp xỉ tuổi 70, mái tóc ngả hết màu muối tiêu nhưng trông vẫn còn khoẻ mạnh và minh mẫn lắm. Là khách quen của bà từ khi về trọ ở khu này, nhưng tôi chưa biết tên bà là gì, nói đúng hơn là chưa một lần tôi dám hỏi tên của bà.

Quán của bà bình dị với một ấm trà lớn (kiểu ấm tích ngày xưa) được ủ trong một chiếc giỏ đan bằng mây; một ít kẹo lạc, ngô cay, dăm ba chai nước ngọt, rồi singgum…Chỉ có vậy nhưng đều đặn tối nào bà cũng dọn hàng ra, trừ những ngày mưa. Bà cười, nụ cười thành thật và hiền hậu: “Khách quen người bán, người bán cũng quen khách rồi. Chỉ cần nghỉ một buổi không ra thôi là tối hôm ấy cứ thấy nhơ nhớ, thiêu thiếu một cái gì đó trong nếp sống hàng ngày của mình…”.


Quả thực, người ta đến với “quán cóc liêu xiêu” của bà không chỉ để nhâm nhi một cốc trà nóng trong không gian se lạnh của đầu đông, hay trầm ngâm suy tư – mà còn được để trò chuyện với bà, nghe bà kể chuyện…Bà kể về đời bà, từ khi về làm dâu thành phố như thế nào, đã gắn bó với phố phường Hà Nội này ra sao…Tôi ngồi lắng nghe và tưởng tượng cuộc đời một người đàn bà chịu thương chịu khó với những giọt mồ hôi của sự tảo tần. Dường như tất cả các đường phố, các con hẻm của đất Hà thành này bàn chân của bà đều đặt tới…Rồi hết chuyện mình, bà lại kể sang chuỵện người – những chuyện bà mắt thấy tai nghe từ chính cái quán nước nhỏ của mình tối tối…Đó là cô hàng bán ngô nướng và bánh khoai bên cạnh, nghe tin anh chồng được xổ số đã nhảy lên như một đứa trẻ, bỏ cả bắp ngô đang nướng dở trên bếp than mà chạy về. Bà lắc đầu cười: “Trăm lần mới được một lần…Chả bù cho những lúc nước mắt ngắn nước mắt dài, bị chồng bòn tiền mua vé số”. Rồi chuyện đám thanh niên choai choai bắt nạt một cậu bé đánh giày. Bà chép miệng đầy cảm thương: “Khổ, thể nào tối đó thằng bé cũng phải nhịn đói cho xem!”…


Cứ thế, những con người, những cảnh đời xung quanh như những cuộn phim nhỏ được ghi lại trong cái nhìn nhân ái đồng cảm của bà, để rồi người nghe ngồi bên cốc trà nóng lại bâng khuâng chiêm nghiệm về ý nghĩa của cuộc sống từ những điều bình dị, giản đơn thường ngày như thế, mà không phải lúc nào chúng ta cũng nhận ra.


Cả bốn mùa xuân- hạ- thu – đông, bà đều có mặt ở quán nhỏ ấy, nhưng tôi thích đến với quán của bà vào mùa đông nhiều hơn…Mà hình như chẳng phải riêng tôi, những người khách quen khác của bà cũng vậy. Liệu có phải vì: “Mùa đông lạnh buồn cho ta đến bên nhau…” như câu thơ cô bạn thân cùng bàn với tôi đã viết? Chỉ biết rằng, mùa đông lạnh, phố phường Hà Nội lạnh, nhưng quán nhỏ của bà thì luôn ấm áp, cái ấm áp của tình người, mà không len, áo nào có thể đem lại. Và tôi, cứ thích gọi bằng cái tên riêng đặc trưng ấy: Quán mùa đông.

Khói bếp- tiếng gọi về tổ ấm

Những buổi chiều đông, khi cái lạnh giăng tràn khắp phố, người đàn bà bán ngô nướng ở đầu ngõ bắt đầu nhóm bếp. Tay bà run run gom những chiếc lá khô trên vỉa hè, châm lửa đốt. Những sợi khói xanh xao nhẹ nhàng bay lên. Bà cúi xuống thổi nhẹ, đám lá khô cháy bùng thành một ngọn lửa nhỏ. Bà đưa hai bàn tay gầy guộc ra khum khum, như sợ một ngọn gió bất chợt sẽ cuốn lửa đi mất. Rồi ngọn lửa lụi dần, nhưng những viên than thì đỏ rực lên như mặt trời buổi sớm. Vầng khói mỏng dần, tan vào trong vòm lá. Tôi thường đứng một mình vẩn vơ nhìn màu khói quẩn quanh bay lên từ tán cây. Thấy lòng xốn xang, thổn thức. Nhớ đến dáng mẹ ngày nào vẫn cặm cụi nhóm bếp thổi những bữa cơm chiều. Đôi khi tôi hít một hơi thật sâu để cái mùi khét khét thơm thơm đọng lại trong lồng ngực. Bỗng thấy lòng ấm áp lạ kỳ. Bất chơt thèm một bữa cơm đoàn viên, một mái ấm gia đình, thèm được ngửi cái mùi khói chân quê không thể lẫn đâu ấy.


Tôi lục tìm trong ký ức tuổi thơ của mình những ngày đông giá rét. Thấy mình chân trần chạy lăng xăng trên những thửa ruộng khô nứt nẻ. Tiếng cười giòn tan trong gió chiều. Tôi và đám bạn chăn trâu vơ rơm rạ đốt để sưởi ấm. Khói đen bốc lên nghi ngút. Có khi chúng tôi hò reo nhảy múa quanh đống lửa như những thổ dân ăn mừng sau một chuyến đi săn thắng lợi. Ngọn lửa cháy rừng rực làm ấm lại những đôi bàn tay, bàn chân nhỏ đã lạnh cóng.


Bên đống lửa, chúng tôi hì hụi nướng những chú cào cào gầy xơ xác. Mấy cái miệng thi nhau thổi phù phù. Khói toả ra mù mịt cay xè. Mặt mũi đứa nào cũng nhọ nhem muội than. Mùi cào cào nướng ngầy ngậy lẫn với mùi khói cháy khét tạo ra một hương vị đặc trưng thật khó tả. Như có mùi của rơm rạ, của đồng đất quê nhà lẫn vào trong đó. Chúng tôi chơi đùa cho đến khi khói bếp bay lên từ những mái rạ trong làng thì hò nhau lùa trâu về. Lúc ấy mọi nhà đang chuẩn bị bữa cơm chiều.


Quê tôi thuở ấy còn lợp mái rơm. Và thường là loại rơm nếp, thân dài, rất bền mà lại có mùi thơm. Những chiều đông về, khói bếp bay lên từ những chái bếp đơn xơ, lẫn vào sương trắng. Không còn vị cháy xém, cay cay nơi sống mũi. Chỉ còn một mùi thơm thơm của rơm nếp đầu mùa. Tan trường về, tôi hay có thói quen vừa đi vừa đoán xem nhà ai đó đang nấu món gì.


Người làng tôi ngày ấy nấu ăn cũng đơn sơ lắm. Cứ ngửi mùi khói bay ra từ đầu hồi là biết. Này nhé, khói có vị cháy của đường phèn, đích thị món cá kho khô. Khói có vị thơm dậy của nước mắm, đúng là món thịt rim. Còn mùi tỏi xào thơm nức chắc chắn là món rau bí. Những món ăn hấp dẫn thúc giục đôi chân tôi bước mau về nhà. Tôi sẽ nhào vào bếp để xem nhà mình hôm nay có món gì. Và tôi sẽ reo lên sung sướng khi biết mẹ đang làm món trạch kho. Đó là món đặc sản của mùa đông quê tôi.Rồi những năm lũ về. Cánh đồng làng ngập chìm trong biển nuớc. Cả làng lội bì bõm gặt lúa. Rơm rạ ướt hết. Mẹ nhóm bếp, khói bay mù mịt. Tôi thơ bé hồn nhiên chạy ra đầu ngõ bắt cá rô. Có biêt đâu mẹ vừa ngồi thổi cơm trong bếp, vừa cầm chậu hứng nước mưa mà nước mắt cứ chảy ra giàn giụa. Tôi vô tư hỏi mắt mẹ sao lại ướt. Mẹ bảo tại khói bếp làm mắt mẹ cay. Có hôm, mẹ chưa nấu cơm xong, tôi sốt ruột chui vào bếp ngồi cạnh mẹ nướng những củ khoai sượng sần ăn lót dạ. Khói bếp cay nồng nơi sống mũi.Tôi vẫn cười thích thú. Còn mẹ nhìn tôi xót xa.


Mẹ là người tần tảo, chắt chiu. Trong lúc đun bếp, rơm cháy làm những hạt lúa còn sót lại nổ lộp bộp. Mẹ cẩn thận khều ra, cậy vỏ trấu rồi bỏ vào chiếc ống bò dành cho tôi. Mẹ tỉ mẩn cho đến khi nấu xong bữa cơm cũng phải được lưng ống. Tôi sung sướng ôm hộp bỏng gạo vào lòng nâng niu như báu vật . Đó là một thứ quà “xa xỉ” của bọn trẻ quê chúng tôi thời đó. Vì thế, tôi không nỡ ăn hết ngay. Thỉnh thoảng mới nhón một hạt cho vào miệng. Những hạt bỏng gạo tan dần ở đầu lưỡi. Mùi thơm của gạo mới hoà lẫn mùi muội than cháy xém khiến tôi nhớ mãi.


Tuổi thơ tôi được bao bọc trong rơm rạ và mùi khói bếp. Những đêm đông, trước lúc đi ngủ, cả nhà tôi hay quây quần trong gian bếp bé xíu đốt lửa sưởi. Nhà không có củi, mẹ phải mồi bếp rơm. Lửa cháy bập bùng. Giọng bà nội trầm ấm. Những câu chuyện cổ tích, những câu chuyện về thời ấu thơ của ông bà, bố mẹ làm chúng tôi thích thú. Tôi ngủ quên trên tay mẹ lúc nào không hay. Rồi những ngày đông giá rét, chăn đắp không đủ ấm, mẹ bện rơm khô cho anh em tôi đắp cho đỡ lạnh. Đêm nằm còn thấy mùi thơm phảng phất của ruộng đồng, của mùi khói rơm rạ.


Tôi lớn lên, biết vào bếp giúp bố mẹ nấu những bữa cơm nhà. Mới biết thế nào là nỗi lo âu trong những ngày giáp hạt. Lu gạo đã vơi tận đáy. Đống rơm sau nhà cũng ngót đến gót chân, phải đun dè xẻn. Mới biết mắt mẹ không cay vì khói mà vì những muộn phiền. Tôi học cách lo toan mọi việc từ gian bếp đơn sơ. Để bố mẹ yên tâm cho những công việc ngoài đồng. Để khói bếp làm mặt mẹ rạng rỡ hơn mỗi khi chiều về. Và biết cách nói dối mỗi khi ngồi khóc một mình trong gian bếp nhỏ.


Rồi tôi rời xa mái làng thân yêu ra thành phố lập nghiệp. Cuộc sống gấp gáp cuốn tôi đi với những bon chen, toan tính đè nặng. Có lúc tưởng chừng như quên hẳn cái miền quê nghèo đã nuôi tôi khôn lớn ấy. Nhưng những lúc thấy mệt mỏi hay chán chường, tôi lại ra bến ô tô về quê.


Tôi chậm rãi đi bộ từ đầu làng về nhà. Lắng nghe những âm thanh đời thường vang lên trong chiều. Tiếng bà mẹ gọi con về tắm gội. Tiếng trâu nghé ọ về chuồng. Tiếng lợn kêu đòi ăn. Tiếng gà xao xác. Và những chái bếp đơn sơ vẫn còn đó. Khói biếc toả ra từ mái rạ, vẽ lên nền trời những dáng hình quen thuộc. Như mái tóc mẹ nhuốm sắc màu của thời gian. Mẹ vẫn đứng ở cửa bếp chờ tôi về. Mùi khói bếp khen khét vương nơi tóc mẹ làm lòng tôi ấm lại. Những lo lắng, mỏi mệt tan biến. Chợt thấy mình vẫn bé nhỏ trong vòng tay mẹ bao dung.


Bao năm xa quê, tôi vẫn không thể quên cái mùi khói cay nồng quen thuộc ấy . Khói bếp mỏng manh đã thấm vào tuổi thơ tôi. Để rồi có đi đến nơi đâu, khói bếp vẫn đưa tôi tìm về với mái ấm gia đình thân thuộc. Để không quên những tháng năm vất vả đã cho tôi nghị lực bước đi trên đường đời.

Khói bếp, ấm áp tuổi thơ tôi.

Lương Đình Khoa- Đinh Quang Hoạch

Leave a Comment

Previous post:

Next post: