Nhạc Jazz: Một thế giới diệu kỳ

by Thiên Bình on Tháng Sáu 12, 2009 · 2 comments

in Thiên Bình

Post image for Nhạc Jazz: Một thế giới diệu kỳ

Âm nhạc, đặc biệt là nhạc không lời, cho phép con người vượt qua những biên giới ngôn ngữ, chính trị và chủng tộc để đến với nhau.

Trong những đóng góp của người da đen vào văn hóa Hoa Kỳ, không gì có thể sánh được với âm nhạc. Mà âm nhạc thì trước hết là nhạc jazz.

Nói thế không phải để hạ thấp thành tựu của các ngành nghệ thuật khác, như văn học chẳng hạn. Phần lớn chúng ta đều nghe tên nhà văn đoạt giải Nobel Toni Morrison, đến W.E.B Du Bois và đặc biệt là các tác giả của Harlem Renaissance, (Thời Phục hưng Harlem, thập niên 1920) như Jean Toomer, Zora Neale Hurston hay Langston Hughes. Nhưng ánh sáng chói lòa của Harlem Renaissance trước hết là ở âm nhạc, đặc biệt là nhạc jazz, đến mức F. Scott Fitzgerald, tác giả cuốn The Great Gasby (Gasby vĩ đại), phải gọi đó là Thời đại Jazz.

Với rất đông người Mỹ da trắng, biểu tượng của Harlem Renaissance là thứ nhạc Jazz đến từ những bordellos (nhà thổ) khu Storyville nổi tiếng ở New Orlean. Đầu tiên, nó được biết đến nhờ ban nhạc Original Dixieland Jass và sau đó là các nhạc sĩ da đen – họ kéo nhau hòa vào dòng người đổ lên miền Bắc kiếm việc làm tại các công xưởng phục vụ chiến tranh. Chính họ đã đem Jazz đến với công chúng rộng rãi. Rất nhanh chóng, thứ nhạc nóng hổi sức sống, thô ráp nhưng sinh động và vô cùng ngẫu hứng này tràn khắp nước Mỹ như một cơn bão, đem đến một không khí mới hừng hực đam mê sáng tạo. Jazz thấm vào thơ của Vachel Lindsay, Carl Sandburg và E. E. Cummings; tiềm ẩn trong tính cách các anh chàng công tử và những ả phất phơ trong tiểu thuyết của F. Scott Fitzgerald; hóa thành nhịp điệu trong tiểu thuyết của John Dos Passos.

Nhưng trước hết là đối với công chúng. Họ đến chật ních các nhà hát ở Broadway và những đôi vợ chồng chung niềm đam mê sẵn sàng bất chấp mọi cấm đoán để thức thâu đêm với các thần tượng nghệ thuật như Joe “King” Oliver, Fletcher Henderson, Louis Amstrong, Duke Ellington…

Đêm thứ Bảy, ngày 30 tháng Tám, 2003, chân ướt chân ráo đến Hoa Kỳ, tôi phần nào cảm nhận được cái không khí ấy ở Grant Park, Chicago. Đến hôm nay tôi vẫn còn cảm thấy nóng hổi không khí lạ lùng của nó – Annual Chicago Jazz Festival (Liên hoan Jazz hàng năm của Chicago). Năm nay tròn 27 tuổi, nó được coi là một trong những liên hoan nhạc Jazz lớn và nổi tiếng nhất thế giới còn sót lại.

Trước đó tôi không khỏi thoáng ý nghĩ, liệu ban tổ chức có một sự đề phòng chu đáo cần thiết hay không khi khủng bố đang là vấn đề ám ảnh của nhân loại. Nhưng nỗi lo của tôi nhanh chóng biến đi – đó thực sự là một ngày hội. Hàng ngàn người tràn ngập trong một công viên rộng lớn, một phía là đại lộ với một dòng sông xe hơi bất tận, hai phía kia là những tòa nhà vươn cao trên nền trời vô cùng ngoạn mục (Chicago là quê hương của sky-scrappers và cho đến nay vẫn là nơi trú ngụ của Sears Tower, một trong những tòa nhà cao nhất thế giới).

Thoạt nhìn, sự đông đúc của Liên hoan nhạc Jazz Chicago có nhiều nét giống với những lễ hội của ta, như Hội Quan họ Bắc Ninh, chẳng hạn. Thì cũng hát, cũng người. Nhưng rồi càng hòa vào dòng người tôi càng thấy có nhiều điểm khác. Thứ nhất là bạn không hề bị quấy rầy bởi đủ thứ hàng quán, những lời mời chào. Thứ hai, đó là trình độ biểu diễn. Những nghệ sĩ ở đây thực sự là những nghệ sĩ bậc thầy và không khí đậm đặc chất Jazz, đến mức bạn không thể hình dung giữa chừng lại lẫn vào một bài hát lai căng, như chúng ta vẫn nghe Hotel California lẫn với Người ơi người ở đừng về ở Hội Lim. Nhưng đó vẫn chưa phải là ấn tượng mạnh mẽ nhất. Mạnh mẽ nhất, đó là cảnh hàng trăm cặp vợ chồng nằm hoặc ngồi bên nhau trên cỏ, không một sự va cham, không một lời cãi cọ. Thậm chí còn hơn cả sự tôn trọng lẫn nhau, đó là một lẽ tự nhiên. Họ nằm đó, bên nhau, trong tình yêu, âm nhạc và gió mát từ hồ Michigan thổi đến. Nhìn họ, tôi chợt hiểu ra thật nhiều điều mởi mẻ. Cách đây tám mươi năm, sau biết bao đau khổ loạn lạc vì chiến tranh, sau những bi kịch chia rẽ giai cấp và chủng tộc, khi người dân Mỹ bỗng nhận ra cái hư ảo và bất trắc của cuộc sống, Jazz đã trở thành chiếc cầu nối mọi thành viên trong xã hội. Jazz khởi đầu cho một lối sống mới. Và trên thực tế nó đã nâng cao địa vị của người da đen trong xã hội Mỹ nhiều hơn bất cứ đạo luật nào. Âm nhạc, đặc biệt là nhạc không lời, cho phép con người vượt qua những biên giới ngôn ngữ, chính trị và chủng tộc để đến với nhau. Có lẽ chính vì thế mà ngày xưa Khổng Tử rất đề cao âm nhạc, còn Plato thì coi âm nhạc là môn học quan trọng nhất để đào tạo công dân cho nhà nước lí tưởng của ông.

Những ý nghĩ đó đến với tôi lúc dùng dằng “giã bạn”. Normal, nơi tôi ở, cách Chicago ba tiếng xe hơi, còn lễ hội của họ kéo dài những bốn ngày. Ra về mà trong đầu tôi còn văng vẳng giai điệu bất hủ của Louis Amstrong: Thật là một thế giới diệu kỳ! “What a wonderful world”!

NGÔ TỰ LẬP

(Trích từ tập tiểu luận Gương mặt kẻ khác, NXB Phụ Nữ)

{ 2 comments… read them below or add one }

1 Vanity Tháng Sáu 14, 2009 lúc 23:39

Trong lúc tức tối hậm hực mình thấy mình chả thích cái tiểu luận này tí nào cả. Trích dẫn và lí lẽ lủng củng theo 1 kiểu đáng ghét.
Thêm nữa “What a wonderful world” không phải là của Louis Amstrong. Tớ gần như đã đến với Jazz bởi cái lần sững sờ nghe bạn Amstrong ấy hát, tớ thấy mình nhiều cảm xúc kinh khủng. Nhưng sau cái giờ phút bắt đầu ấy, tớ tự thấy (chiêm nghiệm ^^) ra rằng, 1 bản nhạc Jazz dường như không là của ai cả, chỉ là record bởi ai thôi, hiểu không nhỉ? À, nếu thực sự là của ai đó thì là nhắc đến người sáng tác cơ, trong trường hợp này Louis Amstrong chỉ là người đầu tiên ghi âm và cực kì thành công thôi.
Jazz là cảm xúc, rất nhiều cảm xúc. Nên thật dễ hiểu khi người ta dễ dàng bị kết nối, được kết nối nhờ Jazz.
Hờ, bớt khó chịu rồi.
^_^ Ai quan tâm Jazz đừng bỏ lỡ liên hoan Jazz châu âu tổ chức thường niên ở Hà Nội nhá. Free of charge. Tự  tìm hiểu. Không biết thì hỏi tớ. ^^

Trả lời

2 Sil Tháng Sáu 15, 2009 lúc 00:25

Sake.Winter lại ở Sài Gòn :)

Trả lời

Leave a Comment

Previous post:

Next post: